We All Care

 



Nguy cơ đang xảy ra ở Việt Nam

Theo truyền thống, 25 triệu người Việt Nam sinh sống ở vùng Đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long không có nước sinh hoạt công cộng và đã sử dụng nước mặt sông để uống và sử dụng hàng ngày từ bao nhiêu năm qua.
Do nước sông bị nhiễm mầm bệnh gây ra các triệu chứng dịch tả, kiết lỵ và các bệnh nhiễm trùng khác. Để chống lại những căn bệnh này, năm 1980, UNICEF khuyến khích việc đào giếng ống tư nhân ở Việt Nam. Hiện nay, có hơn 1.000.000 tubewells đang hoạt động và số lượng đang tăng lên nhanh chóng.

We All Care

 

Nguy hiểm của Tubewell!

Cũng giống như tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Bangladesh, nước từ các giếng ống ở Việt Nam cũng đã bị ô nhiễm với hàm lượng thạch tín cao.

We All Care

 

Các nghiên cứu từ năm 1999 – 2015

1999 - Đại học Quốc gia Hà Nội

We All Care

 

2001 - Viện Nghiên cứu Liên bang Thụy Sĩ

Một bài viết do Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Liên bang Thụy Sĩ công bố năm 2001:

Đây là ấn phẩm đầu tiên về sự ô nhiễm thạch tín của phù sa sông Hồng ở thành phố Hà Nội và các quận nông thôn xung quanh. Do các chất hữu cơ trong thiên nhiên có trong các trầm tích, các nguồn nước ngầm vô cơ và giàu chất sắt. Với nồng độ thạch tín trung bình là 159 μg/L, mức độ ô nhiễm dao động từ 1 đến 3050 μg/L ở các mẫu nước ngầm ở nông thôn từ các giếng ống tư nhân.

Tại một vùng nông thôn bị ảnh hưởng nặng, nước ngầm sử dụng trực tiếp như nước uống có nồng độ trung bình là 430 μg/L. Phân tích nước ngầm được bơm từ tầng phía dưới của nước Hà Nội cho thấy hàm lượng thạch tín từ 240-320 μg/L ở 3 trong số 8 nhà máy thanh lọc nước, và 37-82 μg/L ở 5 nhà máy khác. Việc lọc và lọc cát trong các nhà máy thanh lọc để loại bỏ sắt làm giảm nồng độ thạch tín xuống còn 25-91 μg/L, nhưng 50% vẫn cao hơn Tiêu chuẩn Việt Nam là 50 μg/L. Đọc thêm We All Care

 

2003 – Nghiên cứu của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

Bắt đầu từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 7 năm 2003, mẫu nước từ các sông, hồ từ Bắc xuống Nam được phân tích tại phòng thí nghiệm môi trường Weck, Industry, CA, phòng thí nghiệm phân tích được tiểu bang và liên bang Hoa Kỳ chứng nhận, đã phân tích 22 kim loại, 70 hợp chất hữu cơ và 7 anion với độ chính xác của một phần tỷ (ppb hoặc ug/L) cho hai nhóm đầu và một phần mỗi triệu (ppm hoặc mg/L) cho các nhóm sau.

Kết quả như điển hình như dưới đây:

We All Care

 

2007 - 2008 Nhóm nghiên cứu Thụy Điển

Nồng độ thạch tín trung bình trong nước ngầm từ các vùng khác nhau được phân loại theo khoảng cách từ sông Mékong. Dữ liệu được thu thập từ tài liệu (Buschmann và cộng sự, 2007, 2008, Nguyễn và Itoi, 2009, NWD, 2014, Papacostas và cộng sự, 2008; Sthiannopkao và cộng sự, 2008). Các nghiên cứu cho thấy từ mức ô nhiễm thạch tín giảm dần khi khoảng cách giếng ống càng xa bờ sông.

We All Care

Hàm lượng thạch tín cao hơn hàm lượng thạch tín trung bình ở Đồng bằng Sông Cửu Long do năm trong lớp đất phèn acid sulphate do Jon Petter Gustafsson thuộc nhóm nghiên cứu nước ngầm (GRAG), Thụy Điển và ông Nguyễn Thanh Tín thuộc Mạng lưới Giám sát Chất lượng Nước Việt Nam (WQMN) đã tiến hành phân tích lớp đất phèn sulfat (ASS) nầy cho biết hàm lượng thạch tín trong Đồng bằng sông Cửu Long cao gấp 10-30 mg/l hoặc gấp 2-6 lần so với hàm lượng thạch tín thường thấy trong đất.

We All Care

 

2010 – Khoa học Vật lý - Khoa học Môi trường

Ô nhiễm thạch tín trong nước ngầm ở Việt Nam trầm trọng hơn là do việc khai thác nước ở các tầng lớp sâu trong hơn một thế kỷ.

Ô nhiễm thạch tín trong nước ngầm cạn là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khoẻ ở các nước đang phát triển. Việc nhắm vào mục tiêu các tầng lớp chứa nước sâu không bị ô nhiễm là một giải pháp giảm thiểu phổ biến mặc dù tác động lâu dài của nó vẫn chưa được biết đến.

Ở đây chúng tôi xin trình bày các kết quả đáng báo động của một cuộc khảo sát nước ngầm với quy mô lớn bao gồm toàn vùng Đồng bằng sông Hồng và một mô hình toán duy nhất dựa trên tầng địa chất Đệ tứ ba chiều.

Số liệu chưa từng thấy trước trước đây của Nhóm nghiên cứu cho thấy rằng ~ 7 triệu người dân sống trong đồng bằng sử dụng nước ngầm đã bị nhiễm các hóa chất độc hại, bao gồm manganese, selenium, và barium. Các xác suất được xác định ở tầng sâu và hàm lượng asen cho thấy sự rút ngắn các nguồn nước được chứa hàm lượng cao thạch tín từ tầng lớp chứa nước Holocene đến tầng lớp chứa nước Pleistocene không bị ô nhiễm tự nhiên, và được xem như là kết quả của hơn 100 năm khai thác nguồn nước ngầm.

Sự di chuyển thạch tín dọc do bơm quy mô lớn từ tầng lớp nước ngầm sâu xảy ra ờ nới khác đã được thảo luận, nhưng chưa bao giờ được cho thấy xảy ra ở quy mô như được thấy ở vùng nầy. Tình trạng hiện nay ở Đồng bằng sông Hồng là một cảnh báo cho các vùng bị ảnh hưởng thạch tín khác do nước ngầm bị bơm nước từ các tầng lớp nước ngầm không bị nhiễm bẩn dưới các tầng lớp có chứa thạch tín cao.

We All Care
Đọc thêm We All Care

 

2011 - Báo cáo khoa học của Đại học Cần Thơ

We All Care

We All Care

Kết quả của cuộc khảo sát hiện tại thích ứng với nghiên cứu của Mai Thanh Truyết năm 2003, trong đó cho thấy nước Sông Hậu ở thành phố Cần Thơ có hàm lượng thạch tín tổng cộng là 8ug/L và hàm lượng thạch tín hòa tan là 2g/L. Qua kết quả trên, cho thấy vào năm 2011 hàm lượng thạch tín cao gấp 4 lần hàm lượng do Mai Thanh Truyết báo cáo năm 2003. Các dữ liệu trên chứng minh rắng mức ô nhiễm thạch tín trong nguồn nước ở Cần Thơ tăng dần theo thời gian. Điều trên cũng có thể do một nguyên nhân là sự gia tăng dân số và đô thị hóa ở vùng nầy. Trung bình, hàm lượng cao nhứt của thạch tín trong nguồn nước mặt là vào khoảng 8,3 ug/L, vẫn dưới tiêu chuẩn cho phép của mức an toàn phẩm chất nước mặt.

 

2015 - Khoa học Tổng hợp Môi trường

We All Care

Ngày 9 tháng Giêng, 2015: Một khảo sát mới về sự hiện diện của thạch tín trong nguồn nước ngầm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã được báo cáo trong tạp chí Science cho thấy hàm lượng thạch tín cao đến trên 1,000 ppb trong tầng lớp nước ngầm. Hàm lượng cao nầy được tìm thấy ở những vùng nhiễm mặn thấp từ các cư dân trong vùng.

Dữ liệu thống kê cho thấy tỷ lệ giữa thạch tín trong sò ốc, và nước uống thay đổi trong vùng thể hiện sự khác biệt về thạch tín sinh-kết tụ (bioaccumulation) trong vùng.

 

Kết luận

Vấn đề thạch tín ở Việt Nam là có thật và ngày càng tồi tệ hơn nữa. Giáo sư Nguyễn Khắc Hải, Chủ tịch Học viện Khoa học Công nghệ Môi trường và Sức khoẻ Môi trường Việt Nam, cho biết các nghiên cứu đã tiến hành trong 20 năm qua đã phát hiện ra ô nhiễm thạch tín đáng kể trong nước ngầm ở sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
"Các phân tích gần đây cho thấy nồng độ thạch tín trong nước ngầm ở An Giang và Đồng Tháp (trong Đồng bằng sông Cửu Long) cao gấp hàng trăm lần so với tiêu chuẩn đề nghị", ông nói với Thanh Niên Weekly."

Cho đến nay, ông nói rằng "không có phương pháp điều trị hiệu quả nào được khám phá ra" và cách tốt nhất để ngăn ngừa các ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ là ngừng sử dụng nước nhiễm độc cho mọi thứ từ việc tắm rửa đến khi ăn uống.
Ông nói: "Ngăn chặn việc sử dụng nước ô nhiễm thạch tín là cách tốt nhất và duy nhất để ngăn ngừa các bệnh liên quan đến, hoặc đưa đến tình trạng tồi tệ hơn sau khi mắc bệnh".

Nói dễ hơn làm. Trong số 25 triệu người Việt Nam sinh sống ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long không có nguồn nước sạch, họ không có lựa chọn nào khác.

Tại We All Care – Chúng tôi quan tâm, các tình nguyện viên có nền tảng khác nhau trên khắp thế giới đang nắm chắt bàn tay. Và chỉ sau đó, Việc kết nối nầy có thể cho phép chúng ta đưa ra một giải pháp hiệu quả hơn.

 

Xin mời đọc thêm các bài viết dưới đây:

2003 - Asen trong nước uống
2006 - Magnitude of arsenic pollution in the Mekong and Red River Deltas We All Care
2008 - Arsenic in Drinking Water – Vietnam, New Focus of Attention We All Care
2009 - University of Denmark - Groundwater arsenic in the Red River delta We All Care
2009 - Arsenic plagues wells throughout Vietnam We All Care
2014 - Arsenic exposure to drinking water in the Mekong Delta We All Care
2014 - Assessing Health Risk due to Exposure to Arsenic in Drinking Water We All Care
2015 - Arsenic plagues wells throughout Vietnam -Thanh Nien Daily We All Care