We All Care

 



Ngộ Độc Thạch Tín (Arsenic)

Thạch tín có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da hoặc phổi nhưng thông thường nhứt là đi vào cơ thể qua đường nước uống hoặc thực phẩm. Hầu hết các hợp chất của thạch tín hòa tan trong nước đến một mức độ nào đó, và do đó được luân lưu dễ dàng trong trong huyết quản và được đồng hóa do cơ thể. Do độ hòa tan trong nước, một số thạch tín cũng được loại trừ qua nước tiểu và phân. Nhưng tiếc thay, một lượng đáng kể thạch tín xâm nhập và được hấp thu bởi các mô khác nhau trong cơ thể và được giữ lại trong một thời gian dài.

Ảnh hưởng của việc ngộ độc do thạch tín có thể thấy rõ ràng trong một thời gian ngắn hoặc chỉ sau khi bị nhiễm độc lâu ngày. Sự ngộ độc này ảnh hưởng lên cơ thể phụ thuộc vào những yếu tồ dưới đây:
  • Tổng lượng thạch tín được kết hợp với cơ thể. (Liều lượng)
     
  • Định mức thạch tín kết hợp với cơ thể.
     
  • Hợp chất thạch tín đặc biệt nào kết hợp với cơ thể.
     
  • Đường xâm nhập vào cơ thể: - qua ăn, uống, hít thở hoặc tiếp xúc với da.
     
  • Tỷ lệ thạch tín thải ra qua nước tiểu hoặc bài tiết.
     
  • Tình trạng sức khỏe của người bị phơi nhiễm.

     

    Các triệu chứng ngộ độc thạch tín

    Một lượng nhỏ thạch tín cần cho nhu cầu vận hành của cơ thể hàng ngày. Tuy nhiên, một liều lượng lớn có thể gây ra tử vong. Mức nhiễm độc cấp tính của thạch tín nằm trong khoảng từ 2-20mg/kg thể trọng/ngày. Do đó, một người tương đối khỏe mạnh có trọng lượng 160lbs, khoảng 72,6kg, có thể chết nếu ăn giữa 0.145gm và 1.45gm thạch tín dưới dạng Arsenic Trioxide, As2O3. tức là 0,192gm đến 1,92gm Arsenic Trioxide. Một liều lượng nhỏ hơn có thể gây tử vong nếu những người không khỏe mạnh, người cao tuổi hoặc trẻ em bị phơi nhiễm.

    Một số thạch tín xâm nhập vào cơ thể được thải ra khỏi cơ thể khá nhanh chóng nhưng một phần nhỏ của nó tích tụ trong các cơ quan khác nhau, bao gồm cả tóc và móng tay. Phần thạch tín được giữ lại trong cơ thể phụ thuộc vào hợp chất chứa thạch tín qua đường xâm nhập, tức là nuốt phải hoặc hít phải, thực phẩm ăn được có hợp chất thạch tín, v.v… thạch tín được giữ lại trong cơ thể sẽ tiếp tục được loại bỏ nhưng ở một tốc độ chậm hơn…. Tuy nhiên, số thạch tín nằm trong cơ thể tồn dư sẽ tiếp tục gây ra tổn thương sinh lý cho cơ thể.

    Tiếp xúc với các liều lượng nhỏ hợp chất thạch tín trong một thời gian dài có thể dẫn đến ung thư phổi, ung thư da hoặc ung thư gan, hoặc ung thư của hệ bạch huyết. Gây tổn thương cho các cơ quan, chẳng hạn như thực quản, có thể gây khó khăn trong việc nói năng. Tiếp xúc với các liều lượng nhỏ thạch tín cũng có thể gây nhầm lẫn và mất phương hướng.

    Các triệu chứng tiếp xúc với một lượng nhỏ thạch tín thay đổi khác nhau và có thể làm cơ thể mệt mỏi và mất ngủ, làm tăng việc sản xuất nước bọt và mồ hôi cũng như tạo ra ảo giác. Khi việc phơi nhiễm tăng, người ta có thể bắt đầu có vấn đề với bao tử và đường tiểu. Điều này có thể bao gồm các khó khăn trong tiểu tiện liên quan đến việc cảm thấy đau cũng như buồn nôn và nôn, đau bụng đặc biệt ở vùng ruột bao gồm sự mất chuyển động ruột và rối loạn đường ruột non. Gãy xương thường xảy ra là kết quả của ngộ độc asen mãn tính. Mùi hôi từ dạ dày đi kèm với nôn mữa màu xanh lá cây hoặc vàng, đôi khi có máu, xảy ra khi việc tiếp nhiễm thạch tín tăng lên.

     

    Các phương pháp điều trị nhiễm độc thạch tín

    Xác suất thành công trong việc tẩy trừ thạch tín từ cơ thể và giảm thiểu các tác hại của nó sẽ tăng lên đáng kể nếu can thiệp được thực hiện càng nhanh càng tốt ngay sau khi bị phơi nhiễm. Lý do là các hợp chất thạch tín bắt đầu tiêu diệt các tế bào máu ngay lập tức sau khi hấp thụ vào máu và bắt đầu phản ứng ở thận và đường tiểu ngay sau đó. Các phương pháp chữa trị hiệu quả nhất bao gồm:
  • Di chuyển nạn nhân từ khu vực tiếp xúc với khí thạch tín và kiểm soát lượng thực phẩm nuốt vào.
     
  • Lọc máu để loại bỏ Arsenic khỏi máu trước khi thạch tín liên kết vào các mô.
     
  • Truyền máu, nếu được thực hiện ngay sau khi bị phơi nhiễm.
     
  • Tẩy ruột để loại bỏ thạch tín chưa được đồng hóa trong cơ thể.
     

    Có vài thành công đã được quan sát bằng cách sử dụng tác nhân chelating (kết dính với thạch tín bằng cầu nối Van der Wall) phản ứng với thạch tín và thúc đẩy nhanh việc loại bỏ thạch tín ra khỏi cơ thể. Các tác nhân chelating quan trọng nhất là Dimercaprol, (Còn được gọi là BAL), Succimer, (DMSA), và Dimerval, (DMPS). Tất cả các chất chelation độc hại và chỉ nên sử dụng dưới sự giám sát của nhân viện y tế đã được chứng thực.

    The information above is courtesy of ChemSee.com